HomeKinh Nghiệm

6 Quan Niệm Sai Lầm Về Học Ngôn Ngữ Thứ 2

Like Tweet Pin it Share Share Email

6 quan niệm sai lầm về việc học ngôn ngữ thứ 2

Khi trẻ em đến độ tuổi đi học, nhiều giáo viên trên khắp các nước phải đối mặt với thách thức làm thế nào để có thể dạy cho lượng học sinh có kỹ năng tiếng Anh hạn chế này.

Tất cả giáo viên cần hiểu rằng làm thế nào trẻ em có thể học được ngôn ngữ thứ 2 (L2). Những giả định mang tính trực giác thường không chính xác, và những hy vọng không thực tế về quá trình học ngôn ngữ thứ 2 có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển học tập của trẻ em.

Bất kỳ ai đã từng cố gắng học một ngôn ngữ nào đó đều có thể nhận thấy rằng việc học ngôn ngữ thứ hai là một trải nghiệm dễ gây nản lòng.

Không ngoài trừ đối với các trẻ em, mặc dù nhiều người tin rằng trẻ em học ngôn ngữ thứ 2 sẽ dễ dàng hơn so với người lớn. Điều này chỉ đúng với những trẻ em lớn lên trong môi trường có rất nhiều ngôn ngữ xung quanh chúng, chứ không phải là trường hợp chỉ được học ở trường lớp.

Sau đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số quan niệm sai lầm việc học ngôn ngữ thứ 2 ở trẻ em:

Sai lầm 1: Trẻ em học ngôn ngữ thứ 2 rất nhanh chóng và dễ dàng

Thông thường, nhiều người khẳng định sự vượt trội của của trẻ em trong việc học tập là do não bộ của trẻ em linh hoạt hơn so với người lớn (ví dụ, Lenneberg, 1967).

Tuy nhiên, nghiên cứu hiện nay cho thấy mức độ tiếp thu ngôn ngữ 2 có thể liên quan đến một số yếu tố tâm lý và xã hội (Newport, 1990). Nghiên cứu so sánh giữa trẻ em và người lớn đã liên tục chứng minh rằng trong những điều kiện đã được kiểm soát, thanh thiếu niên và người lớn có thể học ngôn ngữ 2 tốt hơn so với trẻ em (ví dụ, Snow & Hoefnagel-Hoehle, 1978).

Chỉ có một ngoại lệ là phát âm, mặc dù cũng có nhiều sự tranh cãi xoay quanh vấn đề này, tuy nhiên một phần nào đó trong cuộc nghiên cứu vẫn cho thấy được người lớn vẫn có thể phát âm tốt hơn so với trẻ em.

Việc trẻ em học ngôn ngữ nhanh hơn so với người lớn có thể là một lầm tưởng. Một đứa trẻ không phải học nhiều như một người lớn để đạt được năng lực giao tiếp. Những cấu trúc câu của trẻ em luôn ngắn hơn, đơn giản hơn, cùng với một vốn từ vựng ít hơn.

Do đó, mặc dù xuất hiện ý kiến rằng trẻ học nhanh hơn người lớn, thì kết quả của các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng người lớn và thanh thiếu niên có sự tiếp thu kiến thức tốt hơn. Sự so sánh về trình độ này thực ra có phần hơi khập khiểng.

Vì vậy, để áp dụng kiến thức vào thực tế, giáo viên không nên mong đợi kết quả vượt bậc từ trẻ em trong việc học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) mà nên hiểu rằng việc học ngoại ngữ đều khó khăn cho cả trẻ em và người lớn. Thậm chí trẻ em có thể gặp khó khăn nhiều hơn, vì chúng không thể biết được cách ghi nhớ và rút ra được các chiến lược từ kinh nghiệm học từ vựngngữ pháp.

Cũng không nên cho rằng trẻ em ít cảm thấy ức chế hơn người lớn lúc mắc lỗi khi học ngoại ngữ. Trẻ em chắc hẳn sẽ có nhiều nhút nhát và xấu hổ trước đám đông hơn so với người lớn. Trẻ em ở những môi trường căng thẳng có thể trở nên vô cùng lo lắng và đừng nên cho rằng, trẻ sẽ dễ dàng vượt qua.

Nói cách khác, thậm nếu chúng ta theo quan niệm là trẻ em học ngoại ngữ nhanh hơn so với người lớn thì cần có những phương pháp dạy học phù hợp để khuyến khích trẻ học.

Xem thêm: Bạn phù hợp với phương pháp học tiếng Anh nào ?

Sai lầm 2: Trẻ càng nhỏ tuổi, càng có nhiều kĩ năng học ngôn ngữ hai hơn

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng, trẻ em bắt đầu học ngôn ngữ thứ 2 càng sớm thì sẽ càng dễ dàng hơn cho trẻ (như Krashen, Long, & Scarcella, 1979).

Tuy nhiên cũng có nhiều nghiên cứu không đồng tình với giả thuyết này. Ví dụ, một nghiên cứu về trẻ em ở nước Anh trong việc học tiếng Pháp ở trường đã cho thấy rằng, sau 5 năm nghiên cứu, những trẻ em lớn tuổi hơn sẽ học ngôn ngữ 2 tốt hơn (Stern, Burstall, & Harley, 1975). Những kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở những nghiên cứu khác ở Châu Âu (như Florander & Jansen, 1968).

Phát hiện này phản ánh mô hình giảng dạy ngoại ngữ được sử dụng ở châu Âu là tập trung chủ yếu vào ngữ pháp. Trẻ lớn tuổi hơn sẽ có kỹ năng thích ứng với phương thức dạy học này và có thể làm tốt hơn khi gặp những hình thức kiểm tra kiến thức.

Tuy nhiên, lập luận này không giải thích những phát hiện từ các nghiên cứu trong các chương trình học hoàn toàn bằng tiếng Pháp ở Canada – nơi ít tập trung vào ngữ pháp. Trong bài kiểm tra về trình độ thông thạo tiếng Pháp, trẻ bắt đầu học ngôn ngữ thứ 2 vào năm lớp 7 hoặc 8 đã tiếp thu một cách tốt hoặc tốt hơn so với trẻ bắt đầu học từ mẫu giáo hay lớp 1 (Genesee, 1987).

Có nhiều giả thuyết cho rằng trẻ nhỏ có thể học phát âm tốt hơn. Ví dụ, năm 1976 nghiên cứu của  Oyama đã nhận thấy một người học ngoại ngữ thứ 2 càng sớm thì sẽ phát âm càng giống người bản ngữ. Điều này cho thấy rằng cần phải học ngoại ngữ thứ 2 càng sớm càng tốt.

Tuy nhiên, vì việc này mất nhiều thời gian và liên quan đến khía cạnh nhận thức văn hóa  của trẻ. Bên cạnh đó, trẻ em cần sự hỗ trợ tiếp tục của tiếng mẹ đẻ để tránh bị tụt lại phía sau trong việc học.

Giáo viên nên có những kỳ vọng mang tính thực tế đối với các học sinh. Nghiên cứu cho thấy học sinh lớn tuổi sẽ đạt được kết quả nhanh hơn, mặc dù những trẻ em nhỏ tuổi có lợi thế trong phát âm hơn.

Chắc chắn, bắt đầu giảng dạy ngôn ngữ từ lớp 1 sẽ mang đến cho trẻ em cơ hội tiếp xúc nhiều hơn so với việc bắt đầu từ năm lớp 6, nhưng bản thân những tiếp xúc này không đảm bảo sẽ đem lại kết quả tốt khi học ngoại ngữ.

Tham khảo: Hướng dẫn luyện cách phát âm tiếng Anh chuẩn

Sai lầm 3: Học ngoại ngữ thông qua các ngữ cảnh càng nhiều thì kết quả đạt được sẽ nhanh hơn.

Nhiều nhà giáo dục cho rằng trẻ em ở các nước không nói tiếng Anh sẽ học tiếng Anh tốt hơn thông qua chương trình học được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh.

Các chương trình này mang lại nhiều thời gian học tiếng Anh hơn so với các lớp học song ngữ. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc gia tăng sự tiếp xúc với tiếng Anh không có nghĩa là sẽ đẩy nhanh tốc độ tiếp thu tiếng Anh.

Thông qua độ dài của chương trình, trẻ em ở các lớp song ngữ -tiếp xúc với ngôn ngữ mẹ đẻ và tiếng Anh cũng vẫn cần có các kĩ năng tiếng Anh tương đương như trẻ em học hoàn toàn bằng tiếng Anh (Cummins, 1981; Ramirez, Yuen, & Ramey, 1991). Điều này không như nhiều người mong đợi vì thời gian làm bài tập không phải là yếu tố quan trọng nhất cho việc học ngôn ngữ.

Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo việc xóa bỏ ngôn ngữ mẹ đẻ quá sớm và cho rằng cho dù các kỹ năng giao tiếp bằng một ngôn ngữ thứ hai có thể đạt được trong vòng hai hoặc 3 năm, nhưng phải mất mất tới 4-6 năm để để đạt được mức độ thành thạo cần thiết cho sự hiểu biết ngôn ngữ  để sử dụng trong học tập (Collier, 1989; Cummins, 1981).

Giáo viên cần phải hiểu rằng việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong lớp song ngữ cũng mang lại rất nhiều lợi ích: cho phép trẻ em duy trì việc học ở trường, củng cố mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường, và cho phép trẻ tham gia nhiều hoạt động trong trường hơn.

Nếu trẻ em tiếp thu được các kỹ năng đọc viết của ngôn ngữ mẹ đẻ, khi trưởng thành chúng có thể thành thạo được hai ngôn ngữ, với những lợi thế về trình độ chuyên môn, nghề nghiệp.

Tham khảo: Bí quyết tạo động lực đúng để yêu thích và giỏi tiếng Anh

Sai lầm 4: Thành công trong việc học ngoại ngữ là khi họ có thể nói chuyện bằng thứ tiếng đó.

Một số giáo viên cho rằng khi trẻ có thể trò chuyện thoải mái bằng tiếng Anh nghĩa là chúng đã nắm vững của kiến thức ngôn ngữ đó.

Tuy nhiên đối với trẻ em độ tuổi đi học, thành thạo trong giao tiếp không có nghĩa là chúng sẽ thông thạo cả những ngôn từ mang tính học thuật phức tạp, mà cần phải tham gia vào thêm nhiều lớp học nữa. Cummins (1980) dẫn chứng từ một nghiên cứu về 1.210 trẻ em nhập cư ở Canada, chúng phải mất nhiều thời gian hơn (khoảng 5-7 năm) để có thể thành thạo ngôn ngữ trong các chương trình giảng dạy tiếng Anh so học các kỹ năng giao tiếp miệng.

Các nhà giáo dục cần phải thận trọng trong việc loại bỏ các chương trình học bằng tiếng mẹ đẻ ra khỏi chương trình học cho trẻ em. Nếu trẻ em không sẵn sàng thích ứng với lớp học toàn tiếng Anh được lồng ghép thì thành tích học tập của chúng có thể bị tụt lại.

Giáo viên nên nhận ra rằng việc học lồng ghép dựa trên cơ sở đánh giá khả năng ngôn ngữ thông qua giao tiếp là điều không thích hợp, và cần phải có một sự kiểm tra bao quát về nhận thức  để xác định mức độ năng lực ngôn ngữ thực sự của trẻ.

Tất cả giáo viên nên hiểu rằng những trẻ em đang học với ngôn ngữ thứ 2 có thể gặp những vấn đề về ngôn ngữ như đọc và viết chứ không phải là biểu hiện bên ngoài được đánh giá qua khả năng giao tiếp ngôn ngữ thứ 2 của họ.

Những vấn đề trong học thuật như đọc và viết ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, trung học phổ thông có thể xuất phát từ những hạn chế trong vốn từ vựng và kiến thức ngữ pháp. Ngay cả đối với những trẻ em có kĩ năng giao tiếp tốt thì cũng có những lỗ hỏng trong kiến thức nhất định.

Tham khảo: Học giao tiếp tiếng Anh nhanh và dễ dàng cho người mới bắt đầu

Lầm tưởng 5: Tất cả các em đều học ngoại ngữ theo cùng một phương pháp

Hầu hết các giáo viên đều lầm tưởng rằng việc giáo dục cho tất cả các trẻ em đều như nhau, nhưng trên thực tế các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra rằng trẻ em ở những nền văn hóa khác nhau thì sẽ có những biểu hiện khác nhau.

Các nhà nhân loại học văn hóa cũng đã chỉ ra rằng các gia đình Mỹ chính gốc và gia đình từ nhiều nền văn hóa khác có nhiều cách để giao tiếp với nhau (Heath, 1983). Trẻ em Mỹ chính gốc quen với phong cách nói chuyện mang tính suy luận, phân tích, trong khi nhiều trẻ em từ các nước khác quen với một phong cách quy nạp.

Trẻ em sử dụng ngôn ngữ nhiều cách khác nhau, theo thông lệ, thói quen và đặc biệt là do môi trường giáo dục.

Trong khi tại các thành phố lớn, đô thị hóa với môi trường hiện đại, trẻ em được phát triển đầy đủ về kiến thức và chương trình học năng động, thì tại các khu vục ngoại ô hay những nơi không có điều kiện cơ sở vật chất, việc giảng dạy được thực hiện một cách thụ động, qua quan sát, giám sát việc chuyên cần, và việc học  bài thuộc lòng (Rogoff, 1990) và việc kiểm tra kiến thức không chủ yếu thông qua hình thức kiểm tra bài mà dựa trên sự đánh giá trong quá trình học tập.

Vì vậy, việc áp dụng một phương pháp học như nhau cho tất cả các trẻ em là không phù hợp.

Ngoài ra, một số trẻ quen với việc học hỏi từ bạn bè đồng trang lứa hơn từ người lớn. Quan tâm và được dạy bởi các anh chị hoặc anh em họ, họ học một cách im lặng khi có sự hiện diện của người lớn và có rất ít tương tác với người lớn. Ở trường, họ có thể sẽ chú ý đến những gì mà bạn bè đồng trang lứa làm hơn là những gì các giáo viên đang nói.

Mỗi trẻ em có những phản ứng và tiếp thu kiến thức khác nhau ở trường học.  Một số trẻ em hướng ngoại, hòa đồng sẽ học ngôn ngữ thứ hai một cách nhanh chóng. Họ không lo lắng về những sai lầm, nhưng sử dụng kiến thức hạn chế để tiếp thụ thêm nhiều kiến thức từ người bản xứ.

Các trẻ em khác nhút nhát và điềm tĩnh. Chúng học bằng cách lắng nghe và quan sát. Chúng nói rất ít, vì sợ phạm sai lầm. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng cả hai hình thức học này đều có thể ngoại ngữ thành công.

Trong một môi trường học, các hành vi như quan tâm và nhẫn nại là một điều rất quan trọng. Bởi vì sự khác biệt về văn hóa, một số trẻ có thể nhận thấy những khó khăn về văn hóa giữa các cá nhân với nhau trong trường học. Nếu giáo viên không hề biết cảm thông về những khác biệt văn hóa như vậy, sự kỳ vọng và tương tác của họ với những trẻ em có thể gây bất lợi cho việc học tập của trẻ.

Việc dạy học hiệu quả cho trẻ em đa văn hóa đòi hỏi các hoạt động giảng dạy đa dạng dựa trên nhiều kinh nghiệm khác nhau. Nhiều đổi mới giáo dục quan trọng trong thực tế hiện nay là do sự đúc kết từ những giáo viên đã có kinh nghiệm với việc dạy cho trẻ em từ các nền văn hóa khác nhau.

Giáo viên cần phải nhận ra rằng những kinh nghiệm trong gia đình và văn hóa gia đình ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ và tính cách cá nhân của trẻ. Trẻ có khả năng phản ứng tốt hơn khi giáo viên hiểu được các giá trị của nền văn hóa của họ, điều này là khó khăn khi hòa nhập với tập thể lớp, cần phải có sự cố gắng của tất cả những thành viên với nhau.

Nghiên cứu về việc học ngôn ngữ thứ hai đã cho thấy rằng nhiều quan niệm sai lầm tồn tại về việc trẻ em học ngôn ngữ như thế nào. Giáo viên cần phải nhận thức được những quan niệm sai lầm và nhận ra rằng giải pháp nhanh chóng và dễ dàng là không thích hợp cho các vấn đề mang tính phức tạp như học ngoại ngữ. Trẻ em tuổi đi học phải mất thời gian lâu hơn, khó khăn hơn, và cần có nỗ lực nhiều hơn để học được ngôn ngữ thứ 2.

Tham khảo: Top 5 sai lầm người học tiếng Anh thường mắc phải

Sai lầm 6: Cách học một ngôn ngữ nhanh nhất chính là sống tại nước đó

Tôi đã phải học một ngôn ngữ mới cho công việc hai lần trong cuộc đời của tôi.

Lần đầu tiên là vào năm 1971 khi tôi đi Ý để sống. Trong tủ sách nhà tôi có hai cuốn sách trên kệ. Một được gọi là ‘Tự học học một ngoại ngữ‘ , quyển khác là, ‘những phương pháp mới để học một ngoại ngữ‘ bởi một giáo sư danh tiếng tại một trường đại học nổi tiếng của Mỹ.

Quyển thứ hai này dạy cho tôi rằng sau khi một hoặc hai tháng miệt mài tôi sẽ có khả năng nhận ra các từ và cụm từ từ các cuộc trò chuyện và dần dần có thể tự mình đặt câu từ chúng.

Cuốn sách thứ nhất, tôi nghĩ rằng nó được viết vào những năm 1950 cho biết rằng nếu tiếng Ý của tôi không được cải thiện nhanh chóng trong hai tháng đầu tiên thì việc học ngôn ngữ hai của tôi có thể sẽ là một quá trình chậm. Cuốn sách đầu tiên đã nói đúng.

Tôi nhận ra rằng không chỉ tiêng tôi đã như vậy. Tôi đã kết bạn với một nhóm sinh viên ngôn ngữ đại học Anh vào thời gian họ đang đi du học. Tất nhiên, người giỏi nhất trong số đó đã nói rằng cô ấy học ngữ pháp một cách miệt mài và không bao giờ cảm thấy nhàm chán.

Những người khác đã mất nhiều thời gian để học nhưng vẫn không thể nói tốt tiếng Ý. Tôi chỉ bắt đầu cải thiện khi tôi trở về quê nhà và học ngữ pháp một cách chăm chỉ. Sau đó đã trở lại Ý với một lợi thế thực sự, nhưng tôi nghĩ tôi đã phải mất 10 năm để nói tiếng Ý thành thạo.

Kinh nghiệm này cho thấy có nhiều người mất niềm tin vào học ngôn ngữ. Và thậm chí nó còn làm họ cảm thấy mất phương hướng hơn, tôi muốn nói rằng họ không suy nghĩ tại sao một số người nhận thấy thật dễ dàng để học một ngôn ngữ thứ hai và những người khác thì không (trẻ em cũng tương tự như vậy).

Cá nhân tôi không thể học một ngôn ngữ mới khi chỉ cần nghe nó. Hiện nay, Tôi đang ở Trung Quốc và kinh nghiệm của tôi là xác thực như nhau. Thậm chí nếu tôi biết từng từ một của một cuộc trò chuyện, tôi vẫn không thể hiểu nó, trừ khi người đó nói rất chậm.

Trước tiên tôi phải học để NÓI ngôn ngữ, và chỉ sau đó tôi bắt đầu hiểu được nó khi nó được nói ra. Điều đã làm cải thiện tiếng Ý của tôi đó là dành nhiều thì giờ trong việc dịch từ tiếng Anh sang tiếng Ý. Tôi có thể thấy các nhà ngôn ngữ học từ bỏ trong tuyệt vọng, nhưng tất cả những phương pháp học “ngâm mình” hoàn toàn trong ngôn ngữ thứ 2 không phù hợp với tôi.

Dành cho người mới bắt đầu, người mất căn bản

Đăng ký để nhận các email chia sẻ kinh nghiệm & phương pháp học hiệu quả

Comments (1)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *